Dân gian thường nói “buôn có bạn, bán có phường”. Để chiến thắng trên cả sân nhà và sân người thì các DN cần có những điểm tựa, trong đó phải kể đến vai trò của các hiệp hội. Vậy Chính phủ đã có kế hoạch gì để các hiệp hội nghề nghiệp hoạt động chuyên nghiệp?
Câu hỏi này rất thiết thực. Vai trò của Hiệp hội ngày càng tăng lên trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt khi tính chủ động của DN ngày càng tăng. Ví dụ như Hoa Kỳ điều tra chống bán phá giá đối với các DN xuất khẩu tôm Việt Nam hay EU điều tra chống bán phá giá giày có mũ da xuất khẩu của VN.
Đối tác đi kiện là những DN, những nhà sản xuất giày của châu Âu kiện nhà xuất khẩu giày da Việt Nam. Những nhà xuất khẩu vào EU nhiều lắm, cũng như nhà xuất khẩu tôm vào Hoa Kỳ rất nhiều nên Hiệp hội nói lên tiếng nói của họ.
Vai trò của Hiệp hội còn định hướng phát triển ngành nghề, hỗ trợ DN trong tìm kiếm thị trường, hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực, hỗ trợ đưa ra những công nghệ sản xuất mới.
Điều quan trọng là thay mặt DN trong những vụ kiện chống bán phá giá, thậm chí kiện lại họ. Hiệp hội là tiếng nói của DN với Nhà nước, có tiếng nói quan trọng.
Làm thế nào để chọn được người có tâm huyết với nghề nghiệp, với ngành. Nhà nước không bắt đưa người nào vào chủ tịch Hiệp hội, có hiệp hội rơi vào tình trạng chọn người về hưu là chủ tịch như vậy là việc không tốt, không có lợi cho sự phát triển của hiệp hội.
Nói hình tượng như báo chí thì WTO là một biển lớn mà ai bơi ra đó là sẽ bơi được và trở nên giàu có. Theo ông có thật như thế không? Có chắc chắn người VN (đúng hơn là các doanh nghiệp VN) sẽ bơi được không?
Điểm xuất phát của VN là quá thấp so với nhiều nước gia nhập WTO, giả sử số doanh nghiệp VN “bơi được” chỉ khoảng 10 - 20%, còn lại là “chìm” hết thì ông nghĩ sao?
Mọi so sánh đều khập khiễng. Ta ví như thế cũng chỉ giúp hình dung trên tổng thể mà thôi. WTO là sân chơi toàn cầu nghĩa là nó hoạch định các chính sách, những vấn đề đầu tư liên quan đến thương mại, sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại...
Cứ hình dung thế này, sản xuất ra có hai nơi để tiêu dùng, tiêu thụ: trong nước và xuất ra nước ngoài. Chẳng hạn sản xuất ra 35 triệu tấn thóc, chi dùng trong nước hết 25 triệu, dư ra 10 triệu, nếu như không bán được thì người dân cũng chỉ làm đủ 25 triệu chứ không làm thêm.
GDP năm 2006 ước đạt 60 tỷ đô la, tiêu dùng trong nước và dịch vụ ước khoảng 37 tỷ đô la. Như vậy, vẫn còn thừa ra một lượng rất lớn. Nếu tính giá trị sản xuất lại còn cao hơn nữa, lên đến khoảng 40 tỷ USD. Như vậy, nếu không xuất khẩu thì sản xuất trong nước sẽ bị co lại.
Nhưng không phải hàng hóa tự chảy từ chỗ này sang chỗ kia mà là phải có sự tham gia của con người. Tôi không bằng lòng khi có nhiều người cho rằng khi vào WTO là chúng ta giàu có lên ngay. Nhưng có biến cơ hội thành lợi ích thực sự hay không là sự phấn đấu và nỗ lực của bản thân từng cá nhân cũng như của các doanh nghiệp.
Nếu đất nước khởi sắc, thay da đổi thịt, đời sống nhân dân khấm khá lên thì không sao. Ngược lại, nếu đa số nông dân và nhiều doanh nghiệp chưa đủ tầm “ra biển lớn” bị điêu đứng, phá sản (điều này rất có thể xảy ra) thì ông nghĩ sao?
Đây không phải là một cuộc chơi mang tính đỏ đen. Tôi cho rằng có nhiều cơ hội và thách thức, nhưng chưa nước nào vào WTO mà thành ra nghèo đói.
Tất nhiên cũng còn nhiều nước gia nhập WTO mà vẫn còn nghèo đói nhưng đó là vì những nguyên nhân khác chứ không phải vì họ gia nhập WTO mà nghèo đói.
Chẳng hạn ở các nước châu Phi, có thể đó là vì những xung đột sắc tộc. Nếu biết 50% đất nước nghèo đói vì gia nhập WTO thì chắc chắn là chúng ta sẽ không bao giờ đàm phán để tham gia.
Mỗi lao động đều sở hữu một hàng hóa đặc biệt đó là sức lao động của mình, mình có quyền lựa chọn người mua. Các cơ quan Nhà nước của ta sẽ phải đổi mới tư duy theo hướng này, từ đó các lao động kém chất lượng hiện nay của họ được tạo bởi các quyền lực ăn theo trước đây sẽ dần phải được định giá để có thể thay thế bằng các lao động ở ngoài thị trường.
Các cơ sở đào tạo sẽ phải tạo ra các hàng hóa (sức lao động) có giá trị sử dụng thực sự mới mong có thể bán được. Theo ông quan điểm như vậy có đúng không?
Đây là câu hỏi rất lý thú. Tôi chấp nhận việc chúng ta áp dụng cơ chế thị trường trong lao động. Sức lao động phải được trả theo đúng giá trị của nó. Chúng ta đang tìm mọi cách thúc đẩy tiến trình này.
Tôi đang được giao nhiệm vụ báo cáo T.Ư về những chủ trương chính sách lớn để đảm bảo kinh tế phát triển bền vững trong hội nhập. Trong đó có vấn đề sức lao động với quan điểm tạo điều kiện cho lao động chuyển dịch theo đúng thị trường.
Nhưng quan điểm giờ lại hơi khác. Đó là quyền của anh, tôi phải công nhận quyền đó. Nhưng không phải ai cũng vậy. Nhiều người chọn công việc theo 3 tiêu chí: làm cái gì, làm cho ai và làm với bao nhiêu tiền?
Câu hỏi thứ ba rất quan trọng nhưng sau cùng. Nếu hỏi tôi với tư cách lời khuyên, tôi sẽ nói như vậy. Đó là 3 tiêu chí mà người lao động thường lựa chọn, đó là quyền của người lao động mà tôi tôn trọng quyền lựa chọn đó. |